Viêm gan virus B và dự phòng ung thư gan

Viêm gan virus B và dự phòng ung thư gan

Trên thế giới có khoảng 1/3 dân số tức là trên 2 tỉ người bị nhiễm virus viêm gan B và khoảng 350 triệu người trong số họ trở thành người mang virus mạn tính .Nhiễm viêm gan virus B sẽ dẫn tới hậu quả xơ gan và ung thư gan.

Tại Việt Nam, theo số liệu nghiên cứu năm 2005 - 2006, nguyên nhân tử vong hàng đầu trong các loại ung thư là ung thư gan. Theo số liệu ước tính, đến năm 2025 ở nước ta, viêm gan virus B mạn tính gây ra 58.650 bệnh nhân xơ gan, 25.000 bệnh nhân ung thư gan và gây tử vong 40.000 người. Vì vậy, việc dự phòng ung thư gan ở bệnh nhân viêm gan virus B là vô cùng quan trọng.

Viêm gan virus B là một bệnh do virus viêm gan B gây ra. Virus này có 8 genotype khác nhau từ A, B, C, D, E, F, G, H. Trên thế giới tỉ lệ nhiễm viêm gan virus B được chia thành 3 vùng dịch tễ: tỉ lệ nhiễm thấp < 2%, nhiễm trung bình từ 2 - 8 % và nhiễm cao > 8% . Việt Nam nằm trong vùng dịch tễ nhiễm virus viêm gan B cao với hơn > 8% dân số bị nhiễm, có vùng tới 20%. Nhiễm viêm gan virus B sẽ dẫn tới hậu quả xơ gan và ung thư gan.

Đường lây truyền của viêm gan virus B
Lây truyền qua đường máu: Hay gặp do truyền máu và chế phấm của máu có nhiễm virus viêm gan B

Lây truyền qua quan hệ tình dục: Do quan hệ tình dục không an toàn.
Truyền từ mẹ sang con: Virus được truyền từ mẹ sang con trong quá trình sinh đẻ, trong thời kỳ mang thai và thời gian mẹ con gần gũi nhau. Nếu trong cơ thể mẹ có virus viêm gan B thì khả năng lây truyền từ mẹ sang con ngay sau khi lọt lòng là 50 - 90%. Tùy theo tải lượng virus trong máu của mẹ cao hay thấp và người mẹ có HBeAg dương tính hay âm tính.

Đây là con đường lây truyền nguy hiểm cần phải phòng tránh.

Ai có nguy cơ ung thư gan?

Ở người lớn bị viêm gan virus B cấp tính có khả năng khỏi bệnh cao hơn rất nhiều so với trẻ em. Ở người lớn bị viêm gan virus B cấp tính, 95% số trường hợp sẽ khỏi hoàn toàn, chỉ 5% trở thành viêm gan virus B mạn tính.

Nếu trẻ em nhiễm virus viêm gan B do lây truyền từ mẹ thì 90% trở thành mạn tính. Nếu trẻ em bị nhiễm virus viêm gan B sau khi sinh trong độ tuổi từ 1- 5 thì 30% - 50% trở thành mạn tính.

Phần lớn viêm gan virus B mạn tính là không có biểu hiện triệu chứng, mà khi có biểu hiện là đã bị xơ gan hoặc ung thư gan.

Vì vậy việc nhận ra hiểm họa từ viêm gan virus B đối với cộng đồng là rất cần thiết. Rất nhiều người được chẩn đoán có viêm gan virus B nhưng ở thể ngủ hay thể không hoạt động, điều này là rất sai lầm, vì chỉ căn cứ vào men gan không tăng (ALT và AST).

Người ta thấy rằng, khi theo dõi lâu dài người có nhiễm virus viêm gan B mà không phát hiện được virus nhân lên trong máu (< 300 copies/ml) thì chỉ có 1,3% số người này bị ung thư gan trong khi đó nếu nồng độ virus > 106 copies/ml có tới 14,9% bị ung thư gan. Như vậy nguy cơ ung thư gan là tăng cao gấp hơn 10 lần kể cả trước đó không tăng men gan. Những người nhiễm virus viêm gan B mạn tính mà không điều trị khi theo dõi thấy rằng nguy cơ ung thư gan tăng theo tuổi.

Nam giới bị ung thư gan nhiều hơn nữ, có uống rượu thường xuyên làm tăng nguy cơ ung thư gan, tải lượng virus càng cao càng dễ bị ung thư gan.

Ngay cả những người có nhiễm virus viêm gan B mà khi theo dõi sạch virus tự nhiên vẫn có nguy cơ ung thư gan với tỉ lệ là 0,55% mỗi năm.

Sau khi nhiễm virus viêm gan B phần lớn người bệnh không có biểu hiện của bệnh chỉ có một số ít người có biểu hiện viêm gan virus B cấp tính đó là: mệt mỏi, chán ăn, sợ mùi thức ăn. Đặc biệt là thức ăn có nhiều chất béo và nhiều chất đạm đạm (trứng, thịt, cá), đau mỏi toàn thân, đi tiểu nước tiểu sẫm màu như nước trà đặc hoặc nước vối tiếp sau đó da và củng mạc mắt vàng tăng dần.

Sau 1-2 tháng diễn biến bệnh nhân dần hồi phục. Tuy nhiên, trong giai đoạn viêm gan cấp có một tỉ lệ rất ít bệnh nhân có thể viêm gan nặng và suy gan dẫn tới tử vong.

Trong trường hợp điển hình viêm gan virus B mạn tính, bệnh nhân có từng đợt mệt mỏi, nước tiểu sẫm màu, đau vùng gan, có thể có vàng da, khi đi khám bệnh thường được phát hiện có gan to chắc. Thật không may mắn cho người bệnh, ở giai đoạn mạn tính hầu như ít có biểu hiện các triệu chứng, mặc dù bệnh vẫn tiến triển âm thầm dẫn tới xơ gan và ung thư gan.

Muốn biết mình có nhiễm virus viêm gan B chỉ cần xét nghiệm HBsAg trong máu. Nếu kết quả cho thấy có dương tính với HBsAg tức là mình đã bị nhiễm virus viêm gan B.

Nếu xét nghiệm cho kết quả âm tính với HBsAg mà có dương tính với Anti-HBs có nghĩa là mình đã có nhiễm virus viêm gan B nhưng đã khỏi và hiện tại đã có miễn dịch với virus viêm gan B.

Nếu xét nghiệm cho kết quả âm tính với HBsAg mà đồng thời có âm tính với Anti-HBs thì trường hợp này nên phải đi tiêm phòng vì cơ thể chưa bị nhiễm virus viêm gan B và cũng chưa có khả năng miễn dịch với bệnh.

Sau khi có viêm gan virus B cấp tính nếu sau 6 tháng mà xét nghiệm HBsAg vẫn dương tính tức là người đó đã chuyển sang giai đoạn mạn tính.

Những ai cần điều trị ?
- Người bị viêm gan virus B mạn tính:

 +Tải lượng HBV DNA > 105 copies/ml và ALT > 2 lần bình thường cao

 +Tải lượng HBV DNA > 104 copies/ml và độ cứng của gan > 9 kPa nếu ALT bình thường hoặc độ cứng của gan > 12 kPa nếu ALT ≤ 5 giới hạn bình thường cao

 + Tải lượng HBV DNA > 104 copies/ml và tổn thương gan mức độ vừa (sinh thiết gan)

 + Tải lượng HBV DNA > 105 copies/ml và tuổi trên 30

-Có người trong gia đình bị xơ gan hoặc ung thư gan

- Người bị xơ gan còn bù hoặc mất bù do viêm gan virus B

- Người bị ung thư gan do viêm gan virus B

- Viêm gan virus B cấp tính có suy gan hoặc vàng da trên 4 tuần

Phòng ngừa bệnh

- Đối với người chưa có miễn dịch với virus viêm gan B cần tiêm phòng.

- Đối với trẻ em sinh ra từ mẹ mà xét nghiệm có HBsAg dương tính cần được dùng globulin miễn dịch và tiêm phòng vaccine trong vòng 24 giờ ngay sau khi sinh sẽ giúp giảm 95% khả năng lây truyền từ mẹ sang con.

- Không dùng dao cạo râu và bàn chải đánh răng chung với người có nhiễm virus viêm gan B.

- Trước khi kết hôn cần thử HBsAg nếu vợ hoặc chồng có nhiễm virus viêm gan B mà người kia chưa có miễn dịch cần tiêm phòng trước khi kết hôn.

- Phòng ngừa biến chứng cũng vô cùng quan trọng. Đối với những người viêm gan virus B mạn tính mà chưa có chỉ định điều trị cần theo dõi thường xuyên cứ 3 - 6 tháng một lần bằng xét nghiệm ALT trong máu, tải lượng virus HBV DNA, αFP và siêu âm gan.

- Những người có nhiễm virus viêm gan B mạn tính không điều trị virus mà sạch HBsAg tự nhiên vẫn phải định kỳ 6 tháng siêu âm và xét nghiệm αFP để phát hiện ung thư gan giai đoạn sớm.

Nguồn: Báo Sức Khoẻ và Đời Sống

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

  • Về đầu trang
  • DÀNH CHO BỆNH NHÂN

    DÀNH CHO BÁC SĨ